Cơ hội và thách thức với xuất khẩu gỗ của Việt Nam

Chiều nay 31.10, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Báo Nông thôn Ngày nay tổ chức buổi Tọa đàm trực tuyến: “Thực thi Hiệp định VPA/FLEGT: Cơ hội và thách thức với xuất khẩu gỗ của Việt Nam”.

Sau hơn 6 năm đàm phán, Việt Nam và Liên minh châu Âu đã chính thức ký kết Hiệp định đối tác tự nguyện về thực thi Luật lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT) vào ngày 19.10.2018. Đây là Hiệp định thương mại có tính chất ràng buộc pháp lý nhằm cải thiện quản trị rừng và thúc đẩy thương mại gỗ và sản phẩm gỗ hợp pháp xuất khẩu từ Việt Nam sang thị trường EU.

Hiệp định VPA giữa Việt Nam và EU gồm 27 Điều và 9 Phụ lục kỹ thuật. VPA/FLEGT sẽ mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam trên cả 3 lĩnh vực kinh tế – xã hội – môi trường, nổi bật là mở rộng thị trường xuất khẩu, cải thiện thể chế về quản lý rừng, giải quyết tình trạng khai thác và thương mại gỗ trái phép, góp phần phát triển bền vững ngành chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam.

Hiệp định sẽ góp phần tạo điều kiện chủ động cho các doanh nghiệp, giảm mức rủi ro cho các lô hàng xuất khẩu vào thị trường EU. Bên cạnh đó, uy tín của Việt Nam cũng nâng lên tạo thuận lợi cho các mặt hàng gỗ và lâm sản của chúng ta xuất khẩu vào các thị trường Hoa Kỳ, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc,… và những thị trường có những quy định tương tự như của EU về nguồn gốc gỗ.

+ Ông Phạm Văn Điển – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp.

+ Bà Nguyễn Tường Vân – Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế (Tổng cục Lâm nghiệp).

+ Ông Triệu Đăng Khoa – Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tuyên Quang.

+ Ông Huỳnh Văn Hạnh – Phó Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ Tp. Hồ Chí Minh (HAWA).

+ Bà Tô Kim Liên – Giám đốc Trung tâm giáo dục và phát triển (CED).

treaming1.danviet.vn/ocm/images/cmmmtttttt.png” >

14h20

Ông Nguyễn Văn Hoài - Phó TBT Báo Nông thôn Ngày nay/Dân Việt phát biểu khai mạc buổi Tọa đàm trực tuyến: Thực thi hiệp định VPA/FLEGT.
Ông Nguyễn Văn Hoài – Phó TBT Báo Nông thôn Ngày nay/Dân Việt phát biểu khai mạc buổi Tọa đàm trực tuyến: Thực thi hiệp định VPA/FLEGT.

Ngày 19.10.2018, tại Brussel, Việt Nam và Liên Minh Châu Âu (EU) ký Hiệp định đối tác tự nguyện về thực thi luật lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT). Hiệp định sẽ giúp tăng cường quản trị rừng, giải quyết tình trạng khai thác gỗ bất hợp pháp và thúc đẩy thương mại gỗ và các sản phẩm gỗ hợp pháp của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU và các thị trường khác.

Đây là cơ hội tốt cho ngành lâm nghiệp Việt Nam trong việc thúc đẩy phát triển rừng sản xuất trong nước, phục vụ chế biến, xuất khẩu. Bên cạnh đó, kể từ ngày 01.01.2019, Luật Lâm nghiệp đã được Quốc hội thông qua chính thức có hiệu lực thi hành, đồng thời đây cũng là giai đoạn sơ kết 5 năm thực hiện Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp nói chung, trong đó có tái cơ cấu ngành lâm nghiệp. Trước bối cảnh đó, hôm nay, Bộ Nông nghiệp và PTNT phối hợp với Báo Nông thôn Ngày nay tổ chức buổi Tọa đàm trực tuyến: “Thực thi Hiệp định VPA/FLEGT: Cơ hội và thách thức với xuất khẩu gỗ của Việt Nam”.

Buổi tọa đàm hôm nay đang được tường thuật trực tiếp trên báo điện tử Dân Việt và livestream trên fanpage danviet.vn của báo điện tử Dân Việt.

treaming1.danviet.vn/ocm/images/cmmmtttttt.png” >

14h25

Ông Nguyễn Văn Hoài - Phó Tổng Biên tập Báo NTNN/Dân Việt tặng hoa cho các khách mời tời tham dự buổi Tọa đàm.
Ông Nguyễn Văn Hoài – Phó Tổng Biên tập Báo NTNN/Dân Việt tặng hoa cho các khách mời tời tham dự buổi Tọa đàm.

treaming1.danviet.vn/ocm/images/cmmmtttttt.png” >

14h35

– Tiếp theo thành công của Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng giai đoạn 1998 – 2010, ngành Lâm nghiệp đã tham mưu xây dựng, thực hiện nhiều Chương trình lớn tạo chuyển biến rõ rệt, đó là Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 – 2020; Đề án Tái cơ cấu Ngành Lâm nghiệp và Chương trình Mục tiêu phát triển Lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016 – 2020.

Một số kết quả nổi bật của ngành lâm nghiệp thời gian qua là:

– Giá trị lâm nghiệp tăng bình quân 6,75%/năm trong giai đoạn 2013 – 2016 so với 5,03%/năm trong giai đoạn 2010 – 2012. Năm 2017 đạt mức tăng trưởng 5,27%.

– Tài nguyên rừng được phục hồi nhanh. Tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc liên tục tăng từ khoảng 28,2% (1995) lên 39,7% năm 2011; 41,19% năm 2016 và 41,45% năm 2017. Dự kiến năm 2018 sẽ đạt độ che phủ 41,65%.

– Công tác quản lý, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản trên phạm vi cả nước có những chuyển biến hết sức tích cực. Số vụ vi phạm và diện tích thiệt hại được kiểm soát tốt và có xu hướng giảm dần. Từ trên 39 nghìn vụ năm ở giai đoạn 2006 – 2010 xuống còn trên 26 nghìn vụ/năm giai đoạn 2012 – 2016. Năm 2017, cả nước đã giảm 21% vụ vi phạm các quy định của nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, và 71% diện tích rừng bị thiệt hại so với năm 2016.

– Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng là một trong 10 thành tựu nổi bật của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2010 – 2015. Mức thu trung bình từ 1.200 – 1.300 tỷ đồng/năm trong giai đoạn 2015 – 2016 và đạt 1.709 tỷ đồng năm 2017. Đến hết tháng 10/2018 đã thu 2.557 tỷ đồng, tăng 61% so với năm 2017. Tiền dịch vụ môi trường rừng hàng năm đã góp phần quản lý bảo vệ hơn 5 triệu ha rừng, chiếm khoảng 42% tổng diện tích rừng toàn quốc; góp phần hỗ trợ cho chủ rừng có kinh phí quản lý bảo vệ rừng; hỗ trợ các Công ty Lâm nghiệp khi dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên và hỗ trợ kịp thời cho hơn 410 nghìn hộ gia đình, cộng đồng với 86% là đồng bào dân tộc có điều kiện nâng cao đời sống, cải thiện sinh kế trong bối cảnh ngân sách nhà nước đang khó khăn.

– Hành lang pháp lý ngành Lâm nghiệp ngày càng được hoàn thiện với việc ban hành Luật Lâm nghiệp 2017 thay thế cho Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004 sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2019, khi Luật Lâm nghiệp có hiệu lực, sẽ tạo động lực mạnh mẽ hơn nữa cho phát triển rừng bền vững và gia tăng giá trị ngành lâm nghiệp.

treaming1.danviet.vn/ocm/images/cmmmtttttt.png” >

Toàn cảnh buổi Tọa đàm trực tuyến.
Toàn cảnh buổi Tọa đàm trực tuyến.

Thứ nhất chỉ số phấn đấu, 2020 đạt 12-13 tỷ USD, 2025 đạt 18-20 tỷ USD. Thứ hai, đẩy mạnh thể chế hoá Luật Lâm nghiệp. Hiện nay Bộ NN&PTNT đang triển khai 4 Nghị định, 7 Thông tư hướng dẫn thực hiện Luật Lâm nghiệp, trong đó chú trọng đơn giản hóa các thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi trong khai thác, chế biến và thương mại lâm sản.Chúng tôi lập kế hoạch thúc đẩy các Hiệp định song phương về lâm nghiệp để tăng cường hợp tác, sự hiểu biết và để phòng vệ thương mại, bảo vệ thương hiệu cho lâm sản gỗ Việt Nam, đặc biệt là các Hiệp định gắn với các nước Asean và 5 nước tiểu vùng sông Mekong.

Chúng tôi cũng lập kế hoạch mở rộng thị trường, chúng ta phải mở rộng thị trường để tránh bị áp thuế bán phá giá, nếu bán cho 1 nước truyền thống có mức tăng trưởng 3 năm liền ở hai con số thì sẽ bị điều tra về việc bán phá giá và áp thuế lên tới 25%, vì vậy chúng ta phải mở rộng thị trường. Bộ NN&PTNT xác định tập trung ưu tiên xúc tiến thương mại đối với các thị trường tiềm năng như: Úc, Nga, Canada, Ấn độ, Châu Phi và Nam Mỹ.

Tiếp đó là triển khai Kế hoạch phát triển thương mại gỗ, chú ý đến gỗ cao su và gỗ vườn nhà (có thể lên 3 triệu m3/năm) gắn với chế biến để phục vụ xuất khẩu trong nhiều năm tới.

Tôi rất vui mừng được mời tới tham dự Hội thảo bàn về giải pháp xuất khẩu ngành gỗ vào các thị trường tiềm năng. Có thể khẳng định từ năm 2011 sau khi QH tổng kết chương trình mục tiêu quốc gia về trồng rừng đã mở ra một giai đoạn mới nhiều cơ hội hơn nhưng cũng không ít thách thức.

Cần phải khẳng định là trong những năm qua, chính sách hỗ trợ lâm nghiệp đã góp phần nâng cao độ che phủ rừng, giải quyết việc làm cho người dân, giá trị gia tăng của các sản phẩm lâm nghiệp ngày càng gia tăng. Thủ tướng Chính phủ cũng đã “đặt hàng” ngành lâm nghiệp phấn đấu giá trị xuất khẩu đạt 12-13 tỷ USD.

Trong năm 2017 tại kỳ họp thứ 5, QH cũng đã thông qua Luật Lâm nghiệp, có hiệu lực từ 1/1/2019. Có thể khẳng định đây là hành lang pháp lý giúp ngành sẽ có bước phát triển cao hơn cao hơn, là cơ sở để làm tốt hơn công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ rừng.

Tuy nhiên, để đạt đượcmục tiêu 12-13tỷ USD thì chúng ta cũng cần thấy rõ những thách thức, cơ hội khi tham gia hội nhập với ngành lâm nghiệp thế giới. Thời gian tới chúng tôi mong Bộ NN&PTNT sẽ cụ thể hóa hơn nữa chính sách giao đất, khoán rừng với chủ hộ.

Đồng thời giúp các chủ rừng sớm có chứng chỉ quản lý rừng bền vững rừng (FSC) để làm tốt hơn nữa việc quản lý, nâng cao việc khai thác và sản xuất từ rừng; khuyến khích các HTX liên kết với nhau để xây dưng chứng chỉ dựa trên sự liên doanh liên kết với nhau.

Một giải pháp quan trọng hơn cả là siết chặt việc bảo vệ rừng, vì đây còn là việc đảm bảo về nguồn nguyên liệu để XK cũng như đảm bảo nhu cầu tiêu dùng nội địa.

Chúng ta cũng cần nghiên cứu tập đoàn giống phù hợp với sự phát triển của từng vùng, thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay.

Bộ NN cần đề nghị Chính phủ quan tâm để hiện đại hóa hơn nữa ngành lâm nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng quan lý nhà nước lâm nghiệp, nâng cao giá trị XK cho các sản phẩm lâm nghiệp.

Cần hình thành nhiều DN có năng lực cạnh tranh, có thể tạo ra những sản phẩm với mẫu mã đẹp, thu hút được thị trường xuất khẩu, nhưng vẫn phù hợp về giá cả, nhu cầu của người tiêu dùng.

treaming1.danviet.vn/ocm/images/cmmmtttttt.png” >

15h10

Năm 2007, Đài Loan có tới 93% là doanh nghiệp nhỏ, chỉ có 3% là doanh nghiệp lớn, tuy nhiên Đài Loan biết kết nối các doanh nghiệp nhỏ với nhau, kết nối các doanh nghiệp với Chính phủ để tạo thành sức mạnh thống nhất. Chủ thể liên kết là các DN, các DN có nhu cầu thật và mong muốn liên kết sẽ được hiệp hội tìm hiểu và xác định rõ đối tác liên kết cho DN đó. Chúng ta có thể liên kết để tạo ra nguyên liệu đầu vào, cũng có thể liên kết trong quá trình sản xuất, chế biến.

Các DN Đài Loan không bao giờ đi một mình, họ đi cả nhóm, có DN sản xuất, Dn chế biến, DN xuất khẩu, họ đi cùng nhau, hỗ trợ cho nhau, điều đó khiến hiệu quả cao, chi phí thấp, hiệu quả cạnh tranh cao, đó là sức mạnh của tập thể. Điều quan trọng của liên kết là phải có niềm tin tuyệt đối với nhau, nếu liên kết hợp tác mà vẫn ngờ vực nhau thì chúng ta không nên liên kết làm gì.

Khi tôi liên kết thì được lợi ích gì, lợi ích đó tôi mang lại đối tác cái gì và đối tác mang lại cho tôi cái gì, trả lời được câu hỏi đó DN mới liên kết tốt. Nếu DN xác định được nhu cầu liên kết, đối tác cụ thể thì hiệp hội sẽ kết nối cho các DN có nhu cầu tương ứng với nhau. Nếu DN có nhu cầu về thông tin, chúng tôi cũng sẵn sàng cập nhật thông tin cho các DN.

Làm thế nào để phát triển vùng nguyên liệu phục vụ chế biến gắn với phát triển bền vững, ứng phó biến đổi khí hậu là một câu hỏi khiến nhiều địa phương phải đau đầu. Tuy nhiên trong những năm qua Tuyên Quang làm rất tốt việc này với 2 giải pháp:

Thứ nhất, tỉnh đã xây dựng đề án nâng cao năng suất, hiệu quả rừng trồng giai đoạn năm 2016-2020 với 3 giải pháp có tính quyết định để thực hiện ổn định vùng quy hoạch phục vụ chế biến, đảm bảo bảo vệ rừng: Thực hiện tốt công tác quy hoạch (cái này Tuyên Quang đã làm từ năm 2007), đến năm 2015 tiếp tục điều chỉnh quy hoạch, giảm diện tích rừng phòng hộ không thuộc đối tượng xung yếu chuyển sang rừng sản xuất, riêng đối với diện tích rừng đặc dụng thì bảo vệ nghiêm ngặt. Thực tế là Tuyên Quang đã đóng cửa rừng từ nhiều chục năm nay chứ không phải đợi đến khi Thủ tướng có quyết định đóng cửa rừng.

Tuyên Quang cũng xác định kinh tế lâm nghiệp là mũi nhọn vì điều kiện phát triển kinh tế của tỉnh có nhiều khó khăn, không có đường biên giới, không có khu công nghiệp, không có tiềm năng về du lịch… nên tỉnh xác định phải sử dụng có hiệu quả 163.000ha rừng sản xuất. Từ năm 2015 đến nay, bình quân mỗi năm tỉnh khai thác hơn 800.000m3 rừng, chiếm khoảng gần 20% khối lượng gỗ cả nước.

Giải pháp thứ 2, từ lâu tỉnh xác định sản xuất lâm nghiệp là một trong những hướng đi đột phá của tỉnh, do đó tỉnh đã hỗ trợ tích cực việc quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ quản lý FSC. Tỉnh đã đứng ra tổ chức hội nghị kết nối các DN chế biến với các hộ gia đình có gỗ, từ đó hai bên có hoạt động hỗ trợ nhau cùng phát triển.

Với việc tổ chức tốt khâu liên kết chuỗi từ trồng đến khai thác, tiêu thụ, tính đến thời điểm này Tuyên Quang là một trong những tỉnh bảo vệ rất tốt rừng nguyên liệu phục vụ chế biến và rừng tự nhiên. Những năm qua, các tỉnh miền núi phía Bắc hứng chịu không ít mưa lũ và nhiều nơi xảy ra lũ quét, lũ ống, nhưng ở Tuyên Quang gần như không xảy ra lũ quét, đó là minh chứng rõ nhất cho thấy việc bảo vệ, phát triển rừng của Tuyên Quang thực sự hiệu quả.

Hiệp định VPA/FLEGT là hiệp định thương mại song phương, ràng buộc pháp lý giữa Việt Nam – EU. Sở dĩ chúng ta đàm phán trong 6 năm bền bỉ để ký được hiệp định này là vì tháng 3.2010, Nghị viện châu Âu đã ban hành Quy chế gỗ châu Âu (quy chế 995), quy định về gỗ hợp pháp. Doanh nghiệp các nước, trong đó có Việt Nam muốn xuất khẩu gỗ sang EU phải chứng minh được tính hợp pháp, thực hiện trách nhiệm giải trình và tuân thủ quy định của họ.

Nếu vi phạm quy chế 995, các lô hàng sẽ bị xử phạt, trả về, tịch thu, xử phạt, thậm chí có thể bị bỏ tù.

Tuy vậy, trong quy chế gỗ của EU cũng mở ra hướng hợp tác, theo đó, quốc gia nào muốn xuất khẩu gỗ vào EU mà không muốn lô hàng nào cũng phải giải trình thì ký Hiệp định đối tác tự nguyện, xây dựng Hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp Việt Nam (gọi tắt là VNTLAS) phù hợp với đặc điểm chuỗi cung của Việt Nam và quy định của EU để xác minh, truy xuất nguồn gốc gỗ trong toàn bộ chuỗi cung làm căn cứ để cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy phép FLEGT cho các lô hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam xuất khẩu sang EU.

Đổi lại, các lô hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam có giấy phép FLEGT sẽ không phải thực hiện trách nhiệm giải trình về nguồn gốc gỗ hợp pháp theo quy định EUTR 995 khi xuất khẩu vào EU.

treaming1.danviet.vn/ocm/images/cmmmtttttt.png” >

15h30

– Chúng ta đã tham gia đàm phán từ 2010, các tổ chức xã hội như CED cũng tham gia quá trình đàm phán đó, tuy nhiên mỗi một tổ chức, Hiệp hội lại có mục đích, vai trò khác nhau.Khi VPA được ký kết thì lợi ích đầu tiên đúng như tên gọi, đó là thực thi Luật Lâm nghiệp tốt hơn. Phải chứng minh được nguồn gốc, xuất xứ hợp pháp của các sản phẩm gỗ. Điều này sẽ làm tăng tính cạnh tranh của các sản phẩm lâm nghiệp, đồng thời tăng cường công tác bảo vệ môi trường rừng.

Khi Hiệp định này đi vào thực thi, nó sẽ ảnh hưởng đến tất cả các DN, kể cả những DN không tham gia thị trường XK, bởi Hiệp định yêu cầu và đề cao rất rõ tính minh bạch của nguyên liệu gỗ – điều mà từ trước đến nay chỉ những DN tham gia XK mới cần quan tâm tới.

Những lợi ích trên sẽ đi kèm với nhiều thách thức, đòi hỏi các DN phải sản xuất minh bạch hơn, tuân thủ đúng theo yêu cầu của Hiệp định, đây chính là điều mà chúng ta hướng tới để phát triển tốt hơn nữa công tác XK các sản phẩm lâm nghiệp.

treaming1.danviet.vn/ocm/images/cmmmtttttt.png” >

15h35

Hiệp định VPA/FLEGT được xây dựng dựa trên quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam, có 4 nội dung cam kết mới đòi hỏi Việt Nam cần quy định bổ sung để phù hợp với các quy định của quốc tế về truy xuất nguồn gốc gỗ, cụ thể:

Về quản lý, kiểm soát gỗ nhập khẩu: Việt Nam sẽ áp dụng các bộ lọc rủi ro là “Loài rủi ro” và “Vùng địa lý rủi ro” để kiểm soát và quản lý gỗ nhập khẩu vào Việt Nam.

Thứ hai, về phân loại mức độ rủi do doanh nghiệp tham gia trong chuỗi cung của Hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp Việt Nam (VNTLAS): Việt Nam áp dụng phân loại mức độ rủi ro doanh nghiệp tham gia trong chuỗi cung để có chế tài quản lý phù hợp, doanh nghiệp được phân loại thành 2 nhóm.

Nhóm 1 là doanh nghiệp tuân thủ pháp luật và nhóm 2 là doanh nghiệp không tuân thủ pháp luật.

Doanh nghiệp Nhóm 1 được chủ động trong hoạt động kinh doanh không phải trình cho cơ quan kiểm lâm sở tại xác nhận hồ sơ xuất khẩu. Doanh nghiệp Nhóm 2: khi xuất khẩu sẽ phải trình Bảng kê lâm sản cho cơ quan kiểm lâm sở tại kiểm tra và xác nhận và kiểm tra thực tế 20% lô hàng trước khi xuất khẩu và cấp phép FLEGT.

Về cấp phép FLEGT: Chỉ cấp cho những lô gỗ xuất khẩu sang các nước thành viên EU. Đây được coi là “Giấy thông hành đặc biệt” do chính các cơ quan Việt Nam cấp để các lô hàng gỗ của ta được tự do vào EU mà không phải làm thủ tục xác minh nguồn gốc gỗ hợp.

Khi thực thi cơ chế này, DN nhóm 1 sẽ có lợi ích nhất định, tất cả sẽ được thể chế hóa bằng Nghị định, dự kiến năm 2019 sẽ hoàn thành Nghị định hướng dẫn thực hiện hiệp định VPA/FLEGT, khi đó hiệp định mới được thực thi đầy đủ.

Bây giờ, các doanh nghiệp vẫn phải thực hiện trách nhiệm giải trình, tuân thủ các quy định của Việt Nam và EU. Chỉ khi được cấp giấy phép FLEGT mới thay thế được quy định đó.

Luật Lâm nghiệp đã được Quốc hội sửa đổi, bổ sung thành Luật Bảo vệ và phát triển rừng với những điều luật rõ ràng, bao gồm cả các cơ chế, nhiệm vụ, quy định trong xử lý các vi phạm pháp luật bảo vệ rừng, chức năng nhiệm vụ của lực lượng kiểm lâm, trách nhiệm của chính quyền các cấp cũng được đưa vào hết sức công phu.

Luật lần này có nhiều tiến bộ đột phá, đổi mới, phù hợp với xu thế hội nhập trong bối cảnh chúng ta tham gia vào Hiệp định VPA/FLEGT rất kịp thời.

Tham gia Hiệp định này, chúng ta phải cam kết 3 điều kiện, trong khi đó nếu tất cả những hộ trồng rừng thực hiện tốt Luật Bảo vệ và phát triển rừng, chấp hành luật thì việc thực hiện VPA/FLEGT rất dễ. Đó là gỗ sản xuất phải có nguồn gốc hợp pháp, từ sản xuất, chế biến, đặc biệt là những khu rừng tuân thủ FSC thì thực hiện Hiệp định này càng dễ hơn.Luật Bảo vệ và phát triển rừng phù hợp với xu thế hội nhập, các DN sản xuất ngành lâm nghiệp nói chung và xuất khẩu gỗ nói riêng.

Với diện tích gỗ đã được cấp chứng chỉ FSC thì việc xin cấp visa xuất khẩu sẽ dễ dàng hơn, đảm bảo an toàn lô hàng chắc chắn không bị trả về, không bị truy xuất nguồn gốc, không bị ảnh hưởng bởi luật pháp của EU.

Mong rằng tới đây, Hiệp hội Gỗ cũng như các địa phương sẽ triển khai thực thi luật này đến tất cả các DN thành viên, các cơ sở chế biến xuất khẩu gỗ, các chủ rừng…

Bên cạnh đó, các luật khác liên quan đến lâm nghiệp như Luật Trồng trọt sắp được thông qua sẽ tạo hành lang pháp lý cho ngành lâm nghiệp phát triển.

Có một cái mới trong tư duy xây dựng luật là vấn đề liên kết chuỗi, chú trọng khâu chế biến, gia tăng giá trị đã được coi trọng.

Đây cũng là động lực giúp ngành lâm nghiệp đạt được con số tăng trưởng ấn tượng trong thời gian qua.

Hiệp định VPA/FLEGT giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EU) là hiệp định thương mại có tính chất ràng buộc về mặt pháp lý nhằm mục tiêu cải thiện quản trị rừng và thúc đẩy thương mại gỗ và sản phẩm gỗ hợp pháp xuất khẩu từ Việt Nam sang thị trường EU.

Việt Nam và EU đồng ý khởi động đàm phán Hiệp định VPA/FLEGT vào tháng 10/2010 và chính thức đàm phán từ tháng 11/2011. Hai bên đã kết thúc đàm phán vào ngày 11/5/2017. Trong hơn 6 năm đàm phán, hai bên đã tiến hành 11 phiên đàm phán cấp cao, 19 phiên đàm phán kỹ thuật và hàng chục phiên họp trực tuyến cùng các hội thảo tham vấn với cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội và các tổ chức chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp, cộng đồng địa phương về các nội dung của Hiệp định.

Hiệp định VPA giữa Việt Nam và EU gồm 27 Điều và 9 Phụ lục kỹ thuật. Nội dung chính của Hiệp định là Việt Nam cam kết xây dựng và vận hành Hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp Việt Nam (gọi tắt là VNTLAS) phù hợp với đặc điểm chuỗi cung của Việt Nam và quy định của EU để xác minh, truy xuất nguồn gốc gỗ trong toàn bộ chuỗi cung làm căn cứ để cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy phép FLEGT cho các lô hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam xuất khẩu sang EU. Đổi lại, các lô hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam có giấy phép FLEGT sẽ không phải thực hiện trách nhiệm giải trình về nguồn gốc gỗ hợp pháp theo quy định EUTR 995 khi xuất khẩu vào EU.

9 phụ lục kỹ thuật của Hiệp định gồm:

– Phụ lục 1: Danh mục mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ đưa vào Hiệp định VPA để cấp phép FLEGT;

– Phụ lục 2: Định nghĩa gỗ hợp pháp;

– Phụ lục 3: Điều kiện quy định việc cho phép thông quan để lưu thông tự do vào Liên minh các sản phẩm gỗ được cấp phép FLEGT của Việt Nam;

– Phụ lục 4: Cơ chế cấp phép FLEGT;

– Phụ lục 5: Hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp Việt Nam (VNTLAS);

– Phụ lục 6: Điều khoản tham chiếu cho đánh giá độc lập;

– Phụ lục 7: Tiêu chí đánh giá tính sẵn sàng vận hành của Hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp Việt Nam;

– Phụ lục 8: Công bố thông tin;

– Phụ lục 9: Chức năng của Ủy ban thực thi chung (JIC).

Để làm được điều nay, chúng tôi tranh thủ chỉ đạo của Tổng cục Lâm nghiệp, tổ chức Hội nghị xúc tiến đầu tư mời các Công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh tham gia. DN ứng trước kinh phí cấp chứng chỉ bao gồm: tư vấn, hướng dẫn, hỗ trợ kỹ thuật, sau đó sẽ được trả dần bằng các sản phẩm gỗ.

Nhờ đó, ngay trong năm 2016 – năm đầu tiên cấp chứng chỉ FSC, chúng tôi đã cấp chứng chỉ cho 5 công ty lâm nghiệp, tương đương với 11.000ha rừng. Tổng kết ngay năm đầu tiên, chúng tôi rút ra bài học: khi tham gia chứng chỉ FSC, ý thức của người dân đã thay đổi, kiểm soát thuốc BVTV, gom gọn gàng chứ không vứt bừa bãi xuống mương.

Bên cạnh đó tất cả đất đai phải được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền lợi của công nhân cũng phải được đảm bảo theo đúng công ước quốc tế. Công tác công tác quản lý Nhà nước về quản lý rừng được nâng lên một bậc bởi cũng phải tuân thủ theo công ước quốc tế.

Và điều đặc biệt nhất, sản phẩm gỗ từ rừng có chứng chỉ FSC có giá trị cao hơn rừng không chứng chỉ từ 12-15%, đây chính là yếu tố quan trọng để gắn kết người dân tham gia trồng và bảo vệ rừng.

Ngoài 5 công ty lâm nghiệp đã được cấp chứng chỉ, năm nay chúng tôi sẽ mở rộng cấp chứng chỉ FSC cho các nhóm hộ, để làm được điều này, chúng tôi cần có khung pháp lý cụ thể hơn từ Bộ NNPTNT thông qua các Thông tư, Nghị định.

Bộ cũng đang có ý định xây dựng một bộ chứng chỉ FSC của Việt Nam dựa trên yêu cầu của quốc tế. Tuy nhiên, chứng chỉ thì cũng phải được quốc tế công nhận, có như thế người dân mới yên tâm sản xuất.

Hàng năm, lợi nhuận của chủ rừng cũng cần phải chia sẻ với cộng đồng dân cư, để khi có sự cố xảy ra, người dân mới cùng tham gia, cùng bảo vệ. Đi đầu cho việc này, trưởng thôn, trưởng bản phải gương mẫu, ký cam kết tham gia bảo vệ rừng.

Muốn giữ được rừng, cách hiệu quả nhất là để người dân thấy rõ họ được hưởng lợi từ rừng, giúp họ có công ăn việc làm từ bảo vệ, trồng và chăm sóc rừng… Tóm lại là các bên liên quan phải cùng được chia sẻ quyền lợi.

Tại Quảng Trị, giá trị thu nhập từ diện tích rừng được cấp chứng chỉ FSC ngày càng tăng, ví dụ gỗ thường được 1 triệu thì gỗ FSC phải được 1,3 triệu.

Hiện, Quảng Trị đã có 3 công ty lâm nghiệp và 2 hộ trồng rừng được cấp chứng chỉ FSC; đối với các hộ sản xuất nhỏ lẻ, chúng tôi đang khuyến cáo tham gia HTX, nhóm hộ, tổ hợp tác để được cấp chứng chỉ FSC nhằm sản xuất rừng bền vững.

Nếu tất cả các khu rừng của chúng ta được cấp chứng chỉ FSC thì công tác thực hiện Luật của chúng ta sẽ đỡ đi rất nhiều. Và nếu cả các khu rừng tự nhiên cũng được cấp chứng chỉ thì sau này chúng ta sẽ có cơ hội tham gia thị trường các bon RED+.

Hiện tại Quảng Trị có hơn 25.000ha rừng trồng được cấp chứng chỉ FSC, trong đó rừng Cty Lâm nghiệp Bến Hải gần 10 ngàn ha, Cty Lâm nghiệp Triệu Hải hơn 5.200 ha, Cty Lâm nghiệp Đường 9 có hơn 5 ngàn ha và số hộ gia đình có 5 ngàn ha…

treaming1.danviet.vn/ocm/images/cmmmtttttt.png” >

16h10

Nền lâm nghiệp dựa trên thương mại cacbon là sáng kiến của quốc tế. Mục tiêu của chương trình này chống mất rừng, tái tạo rừng.Trên thực tế, chúng ta đã và đang hình thành nhiều cánh rừng giàu có, mang lại thu nhập cao cho người trồng rừng.

Ví dụ, rừng thông khai thác nhựa ở Lạng Sơn, bình quân cho thu nhập 30 triệu đồng/năm, sau 15 – 20 năm có thể khai thác gỗ; hay rừng macca cho thu nhập tối thiểu 100 triệu đồng.

Đó là chưa kể, rừng cung cấp lâm sản ngoài gỗ mang lại giá trị rất cao, ví dụ sâm Ngọc Linh có thể mang lại hàng tỷ đồng/năm.

Chúng ta cũng cần kêu gọi các doanh nghiệp, các cơ quan Nhà nước xem xét và ưu tiên sử dụng gỗ từ rừng trồng.

Đây chính là thách thức lớn làm cách nào để thay đổi thói quen sử dụng của người tiêu dùng để trợ giúp nông dân, câu hỏi đó tôi dành lại cho các nhà báo – những người tuyên truyền về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Hiệp định này đã tạo ra cho Việt Nam vị thế lớn khi tham gia thị trường và chuỗi giá trị gỗ toàn cầu. Bằng việc ký kết này có thể khẳng định nỗ lực của Việt Nam đã được ghi nhận, đồng thời thể hiện rõ thái độ nghiêm túc của chúng ta trong việc thực thi các quy ước quốc tế nói chung.

Tham gia Hiệp định này, chúng ta đã cách làm chuyên nghiệp hơn, công khai, minh bạch và phù hợp với các công ước, tiêu chuẩn của quốc tế. Đây chính là yếu tố cấu thành giá trị ngành gỗ trong tương lai.

Bên cạnh đó, khi tham gia Hiệp định này, chúng ta còn có cơ hội áp dụng công nghệ cao vào ngành chế biến, tạo ra các sản phẩm gỗ đẹp hơn, có giá trị cao hơn. Ví dụ gỗ thành phẩm bình thường chỉ có giá 1.400-1.800USD/m3 thì nếu áp dụng công nghệ cao giá thành sẽ lên tới 4.000 USD/m3 gỗ thành phẩm.

Cuối cùng, Hiệp định VPA/FLEGT đem đến cho chúng ta thị trường vô cùng rộng lớn, không sợ ế hàng, không lo bị ép giá.

Theo đánh giá của chúng tôi, việc ký kết hiệp định này không chỉ giúp chúng ta mở rộng thị trường EU, mà còn có thể xuất khẩu vào nhiều thị trường khác. Nói cách khác Hiệp định sẽ có tác động kép. Hiện nay, không chỉ riêng EU có quy chế về gỗ hợp pháp, mà Hoa Kỳ còn có đạo luật Lacey trước cả EU, tương tự, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc cũng đã ban hành luật sử dụng gỗ sạch, hoặc gỗ bền vững.

Trong các thị trường chúng ta xuất khẩu nhiều nhất hiện nay (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc Trung Quốc, Úc) thì 5 thị trường đã có quy định, chỉ còn Trung Quốc là chưa. Do đó, khi chúng ta đàm phán hiệp định, các bạn hàng Hoa Kỳ cũng rất trông chờ chúng ta sẽ thực hiện được gì?

Khi thực hiện Hiệp định, hệ thống luật pháp của chúng ta sẽ được cải thiện nhiều, từ đó chúng ta không những sẽ mở rộng thị trường EU mà còn mở rộng ra nhiều thị trường khác, có tiềm năng tăng trưởng từ 10-15%.

Một tin vui là ngay khi cả hiệp định chưa ký, các đơn hàng đã tăng lên rất nhiều vì khách hàng tin tưởng chúng ta đã có những cam kết thực hiện hiệp định, trong đó thị trường Hoa Kỳ là đối tác hết sức quan trọng.

Chúng ta sẽ tiến đến làm một cách chuẩn hoá, công khai minh bạch, hợp pháp và bền vững. Đây là yếu tố cấu thành tăng trưởng của chúng ta trong tương lai.

Thứ nữa là chúng ta phải tăng cường áp dụng công nghệ tốt, Hiện nay giá khoảng 1.400-1.800 USD/m3 gỗ thành phẩm, nhưng khi áp dụng công nghệ có thể tăng tới 4000 USD/m3 gỗ thành phẩm.

Về nguyên liệu, diện tích dất chúng ta chỉ có thế với 2,86 triệu ha, tiến tới cũng chỉ nhiều nhất khoảng 3,6 triệu ha. Tỏng khi hầu hết các nước muốn mua gỗ, đây là cơ hội cho chúng ta tăng trưởng. Cuối cùng, thị trường gỗ rất tiềm năng, không sợ được mùa mất giá.

Ông Phạm Văn Điển – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp trả lời:

Để nắm bắt cơ hội chúng ta phải hành động, mà hành động từ lâu. Một loạt công việc như hệ thống luật pháp có bước tiến, tiếp thu ý kiến cả trong và ngoài nước sao cho có lợi chung.Về việc hỗ trợ cho nông dân, mỗi địa phương có cách làm khác nhau, sao cho thúc đẩy việc trồng rừng, sản xuất bền vững.

Về nguồn gốc gỗ nhập khẩu, chúng ta có nhập khẩu gỗ từ Campuchia, Nam Phi, Cameroon nhưng đã giảm đi nhiều. Ví dụ, mới đây, 100.000m3 gỗ từ Cameroon ách lại ở cảng Hải Phòng do không đáp ứng được yêu cầu.

Nhập khẩu gỗ từ Campuchia giảm 3 -4 lần, chúng tôi đã đàm phán với phía bạn cái gì là hợp pháp, cái gì còn vênh, đảm bảo tất cả đều hợp pháp.

Ông Nguyễn Văn Hoài – Phó Tổng Biên tập báo Nông thôn Ngày nay/Dân Việt phát biểu kết thúc tọa đàm:

Buổi tọa đàm của chúng ta đã diễn ra hơn 2 giờ đồng hồ với sự trao đổi cởi mở, tích cực. Ban tổ chức đã nhận được hàng chục câu hỏi từ các đơn vị tham dự. Buổi tọa đàm này cũng đã được trực tuyến trên trang nhất Báo điện tử Dân Việt. Điều này chứng tỏ đây là một vấn đề thời sự rất được quan tâm.

Các vị khách mời đã giải đáp trực tiếp các câu hỏi của dư luận và độc giả liên quan đến nội dung của hiệp định này, cũng như các cơ hội, thách thức mà ngành sản xuất, chế biến gỗ sẽ phải đối mặt khi xuất khẩu các sản phẩm gỗ trong thời gian sắp tới.