Ngành mía đường – thay đổi hay là “chết”?: Bỏ không nỡ, giữ càng lo

LTS: Ngành mía đường Việt Nam đang đứng trước nguy cơ phá sản khi hết bảo hộ, vì không thể cạnh tranh với đường ngoại. Liệu có phải chính sách quản lý và điều hành bất cập đã dẫn tới tương lai u ám này, hay là vì doanh nghiệp chậm cải cách với sự thay đổi của kinh tế thị trường? Tương lai ngành công nghiệp sản xuất hơn 1,5 triệu tấn đường mỗi năm và đời sống người nông dân trồng mía sẽ ra sao?

Đến tháng 10, các nhà máy đường (NMĐ) ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) sẽ khởi động niên vụ mới mà những nỗi lo từ niên vụ cũ dường như chưa kết thúc. Phóng viên Báo NTNN ghi nhận câu chuyện cụ thể tại huyện Cù Lao Dung (Sóc Trăng)

Hết thiết tha trồng mía

Trên mảnh đất trù phú ở Cù Lao Dung, nhiều nông dân trồng mía từ nhiều đời đang dần từ bỏ cây mía. Những người bỏ mía không đành lòng, mà người muốn giữ mía cũng càng thêm lo.

Niên vụ vừa qua, ngành mía đường gặp rất nhiều khó khăn. Ảnh: Nguyên Vỹ
Niên vụ vừa qua, ngành mía đường gặp rất nhiều khó khăn. Ảnh: Nguyên Vỹ

Niên vụ mía 2017 – 2018 được xem là năm thứ 3 liên tiếp người trồng mía ở Cù Lao Dung phải đối mặt với nhiều nỗi lo về thời tiết, giá cả, nhân công lao động… Niên vụ 2015 – 2016 xảy ra hạn mặn, nhiều diện tích mía mất trắng. Đến niên vụ 2016 – 2017, nhiều nông dân gặp khó khăn về giá cả và thiếu hụt nhân công thu hoạch.

Riêng năm nay, giá mía “tuột dốc không phanh”, có nơi chạm xuống mức đáy 300 đồng/kg càng khiến nhiều người thất vọng, bởi giá thành mỗi kg mía đã lên tới 600 – 700 đồng/kg, nghĩa là người trồng mía đang bị lỗ một nửa. “Càng vào vụ càng khó níu giữ giá mía. Mấy chục năm trồng mía, chưa có lúc nào gặp cảnh thê thảm như vậy” – ông Lê Thành Phương, nông dân sản xuất mía giỏi trong vùng Cù Lao Dung kể.

Cả đời gắn với nghề trồng mía, ông Hoàng Nhị nhớ lại, từ thời người Pháp vào Việt Nam đầu tư, từng có một NMĐ cũng được xây dựng trên vùng đất cù lao sông Vàm Cỏ (Tây Ninh). Tương tự, thổ nhưỡng ở huyện Cù Lao Dung là vùng đất trời phú để làm mía. Vào thời hoàng kim, diện tích mía ở Cù Lao Dung lên đến 8.000ha, trở thành cây trồng chủ lực.

Tại đây, nghề trồng mía được nối nghiệp từ đời cha đến đời con. Nếu kể từ chương trình 1 triệu tấn đường (năm 1995), đã có ít nhất 2 thế hệ đi qua. Nhiều đứa trẻ theo cha mẹ lớn lên trên đồng mía, rồi lại bám nghề trồng mía đến nay.

Giờ đây, mía vẫn mọc trên đất cù lao, nhưng nông dân đã không còn mặn với mía. “Thị trường đang thay đổi rất nhanh mà ngành mía đổi thay quá chậm. Nếu thị trường tiêu thụ không được cải thiện, giá mía thấp cứ như cơn lốc thổi qua chừng vài ba năm nữa chắc sẽ cuốn bay luôn đảo mía”- ông Nhị trầm tư.

Thực tế ngay tại vùng trồng mía trên Cù Lao Dung, nhiều nông dân tiếp cận được nước mặn Biển Đông đã nhanh chóng chuyển mía sang hai mặt hàng khác đang có thị trường lớn là tôm và siêu cao lương.

Nhưng điều đáng lo hơn là khi bỏ mía, chuyển sang cây khác thì không biết có thích nghi được hay không. “Vùng Cù Lao Dung có đặc thù 6 tháng nước mặn, 6 tháng nước ngọt nên rất khó trồng các loại cây khác. Bỏ mía thì không nỡ mà giữ mía càng thêm lo” – ông Nhị than.

Nỗi lo lắng của những người như ông Nhị là hoàn toàn có cơ sở khi nhiều dự báo niên vụ mía 2018 – 2019 vẫn chưa hết khó khăn. Đến 2020 khi đường thế giới tràn vào theo đà hội nhập, giảm thuế sẽ càng làm nhiều người chới với. Một cuộc tháo chạy khỏi cây mía được dự báo sẽ ngày càng rầm rộ.

Nan giải chuyển đổi

Theo kế hoạch, niên vụ mía 2018 – 2019, huyện Cù Lao Dung sẽ giảm khoảng 1.000ha trồng mía xuống còn 5.400ha so với niên vụ 2017 – 2018. Tuy nhiên, con số thực tế tại nhiều xã ghi nhận chỉ còn tổng cộng chừng 3.200ha. Trả lời báo chí, Chủ tịch UBND huyện Cù Lao Dung Trần Bé Tư thừa nhận, giá mía xuống thấp đã gây xáo trộn lớn trong kế hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất của địa phương.

“Ngoài 1.000ha mía chuyển đổi theo kế hoạch; 2.000ha còn lại hiện vẫn còn lơ lửng chưa biết phải chuyển sang cây con gì để đảm bảo hiệu quả. Đây thật sự là một thử thách không nhỏ cho cả nông dân và lãnh đạo địa phương” – ông Tư nói.

Tính đến giữa tháng 8, lượng đường tồn kho tại các NMĐ trên cả nước hơn 622.000 tấn. Do việc tồn kho lớn chưa được tiêu thụ hết cộng với hạn mức tín dụng tại các ngân hàng đã hết nên nhiều nhà máy còn nợ tiền mua mía của nông dân.

Theo Hiệp hội Mía đường Việt Nam (VSSA), khi Hiệp định thương mại tự do ASEAN có hiệu lực, các NMĐ sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp. Khoảng 22 nhà máy công suất nhỏ có khả năng phải đóng cửa do thua lỗ. Đời sống, việc làm và thu nhập của 11 vạn hộ nông dân trồng mía, 38 vạn người lao động và 10 vạn công nhân chế biến sẽ ảnh hưởng. Ước tổng số tiền thiệt hại do tác động dẫn đến thua lỗ, phá sản cỡ khoảng 10.000 tỷ đồng.

Cũng theo VSSA, sau khi các NMĐ dừng hoạt động, vùng trồng mía rất khó có thể tìm được cây trồng có hiệu quả hơn để thay thế. Điều này không chỉ ảnh hưởng lớn đến đời sống người dân mà còn tác động không nhỏ đến vấn đề an ninh, xã hội ở nông thôn.